Hoa My Entertainment

••• [Back for Stylish ART ]
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  GalleryGallery  CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng Nhập  

Share | 
 

 Lịch sử Trung Quốc

Go down 
Chuyển đến trang : Previous  1, 2
Tác giảThông điệp
pinus2334
Member
Member


Tổng số bài gửi : 290
Age : 25
Đến từ : nhà papa mama
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử Trung Quốc   Fri Oct 24, 2008 2:01 pm

Tính tự phụ và sự yếu kém quân sự

Tính tự phụ của tầng lớp ưu tú Trung Quốc làm họ tin rằng họ không cần phải điều chỉnh lại thực tế quân sự. Họ tin rằng các nước láng giềng sẽ nể sợ sự vĩ đại của Trung Quốc cùng sự ưu ái của Trời với họ. Thực thi Khổng giáo, họ tin rằng nếu quốc gia Trung Quốc chỉ cần đơn giản thực thi nhiều đạo đức hơn thì các vị vua láng giềng sẽ phải tỏ ra kính trọng Trung Quốc một cách đầy đủ, rằng họ sẽ công nhận vai trò đích thực của Trung Quốc như một siêu cường và sẽ phải nộp cống đầy đủ cho Trung Quốc.
Trung Quốc đã không thể đối mặt với sự thật rằng sức mạnh quân sự của họ đã luôn bị thử thách với những cuộc chạm trán liên tục với người Khiết Đan (Khitan), một dân tộc sống ở hầu hết vùng Mãn Châu và đang chiếm đóng vùng cực bắc của họ. Sau khi nhiều lần bị người Khiết Đan đánh bại, Vua Tống, Chân Tông, năm 1004 đã ký một thoả ước với người Khiết Đan, nhường lại vĩnh viễn cho người Khiết Đan phần đất Trung Quốc mà họ đang chiếm, gồm cả Bắc Kinh và ông đồng ý nộp cống hàng năm cho họ.
Ở tây bắc, người Trung Quốc chiến đấu chống lại người Tây Hạ (Tangut) - một bộ tộc Tây Tạng – và Trung Quốc cũng phải chịu với người Tây Hạ điều họ chịu với người Khiết Đan, cho phép Tây Hạ chiếm đất đai Trung Quốc. Năm 1044, Trung Quốc có hoà bình với người Tây Hạ bằng cách đồng ý nộp cống giống như nộp cống cho người Khiết Đan.

Khó khăn tài chính

Các vua nhà Tống bắt đầu cảm thấy sự thiếu thốn về thuế. Dân số tăng vượt quá mức tăng kinh tế. Các chi phí chiến tranh cộng với chi phí ở biên giới phía bắc làm chảy máu nền kinh tế Trung Quốc, cũng như chi phí tăng kỷ lục cho bộ máy quan liêu. Hơn nữa, sự quan liêu còn bị chia sẻ bởi các phe cánh đưa ra các biện pháp khác nhau nhằm về vấn đề cải cách thuế và phân phối ruộng đất. Các cuộc cải cách đó không thành công, cũng như các cuộc cải cách trước dưới thời nhà Hán, và với cùng một lý do: sự chống đối từ đa phần tiểu quý tộc Khổng giáo, những người coi quyền lợi kinh tế riêng quan trọng hơn quyền lợi chung.
Năm 1101, vị vua lúc bấy giờ là Huy Tông, cũng là một nhà thơ, một nhà thư pháp và sùng Đạo giáo. Huy Tông chi rất nhiều tiên cho những cuộc rước xách Đạo lão rất tốn kém và cho việc bảo dưỡng cung điện cùng các vườn hoa. Ông tăng thuế. Và cùng với việc các quan lại trong triều cũng không biết gì nhiều về kinh tế, các giải pháp của họ nhằm tránh bội chi là in thêm tiền. Lạm phát và thuế tăng tạo nên nổi loạn, và Huy Tông dẹp tan các cuộc nổi loạn như một phần hoạt động của đế chế mà ông, thiên tử, thực hiện

Tai hoạ từ nước Kim


Sau đó Huy Tông quyết định tăng thêm các thành công của mình bằng cách giải phóng Bắc Kinh khỏi sự cai trị của người Khiết Đan. Biết rõ sự yếu kém của quân đội Trung Quốc, ông liên minh với người Nữ Chân ở Mãn Châu. Người Nữ Chân là nhiều bộ tộc bên trong vương triều Liêu của Khiết Đan. Người Nữ Chân nổi loạn chống lại sự cai trị của Khiết Đan, và năm 1125 người Nữ Chân đã làm được điều mà Trung Quốc với dân số đông đảo của mình không làm được: đánh bại Khiết Đan, thành lập nước Kim. Sau đó người Nữ Chân quay lại tấn công Tống và tiến sâu hơn nữa vào Trung Quốc, tràn qua thủ đô Tống, Khai Phong, năm 1126. Huy Tông và những kẻ bầy tôi trung thành nằm trong số khoảng 3.000 người bị Nữ Chân bắt làm tù binh, và Huy Tông bị chết trong cảnh giam cầm.
Từ Nữ Chân, một triều đại tên là Kim lên cai trị ở vùng đông bắc Trung Quốc. Ở phía tây bắc Trung Quốc người Tây Hạ cai trị - ở vùng, giống như đông bắc, từ lâu là nơi có nhiều sắc tộc, với những người thuộc tộc Hán ở thiểu số. Về mặt dân tộc, Trung Quốc không có biên giới phía bắc - kết quả của những cuộc di cư và đổ bộ vào Trung Quốc trong nhiều thế kỷ qua và người Trung Quốc đã di cư đến những vùng ở miền bắc.
Người con trai thứ chín của Huy Tông sống sót và tiếp tục vương triều Tống ở miền Nam Trung Quốc ở đồng bằng phía nam sông Dương Tử, và kéo dài về phía Tây tới tỉnh Tứ Xuyên. Một lần nữa, Trung Quốc chỉ còn giữ được vùng phía Nam, triều đình ở đó được gọi là nhà Nam Tống. Và nhà Nam Tống lại tìm cách chinh phục phía bắc.

_________________
Nothing lasts 4ever
Winter_Fire
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://blog.360.yahoo.com/blog-_VnEpesieqLcr5ei.dE8H4dYG.302VW4_
pinus2334
Member
Member


Tổng số bài gửi : 290
Age : 25
Đến từ : nhà papa mama
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử Trung Quốc   Fri Oct 24, 2008 2:02 pm

Nhà Nguyên

Thành Cát Tư Hãn

Các hiệp sỹ với các cuộc đấu trên lưng ngựa, vũ khí và các biểu tượng của tổ tiên, tin rằng họ là các chiến binh đầu tiên trên thế giới, trong khi các chiến binh Mông Cổ lại nghĩ khác. Những con ngựa Mông Cổ nhỏ bé nhưng những kỵ binh trên lưng nó trang bị nhẹ và họ di chuyển với tốc độ cao. Đó là những người dày dạn, lớn lên trên lưng ngựa và săn bắn, làm họ trở thành những chiến binh tốt hơn những người sống trong xã hội nông nghiệp và các thành phố. Vũ khí chính của họ là cung và tên. Và những người Mông Cổ đầu những năm 1200 có kỷ luật cao, phối hợp tốt và có thủ đoạn khôn ngoan.

Người Mông Cổ


Người Mông Cổ mù chữ, tin vào bái vật giáo, dân cư thưa thớt, có lẽ chỉ vào khoảng 700,000 người. Ngôn ngữ của họ hiện được miêu tả là kiểu Altaic – có nguồn gốc từ vùng núi Altay ở phía Tây Mông Cổ - một ngôn ngữ không liên quan tới ngôn ngữ Trung Quốc. Họ là những kẻ du mục trên những đồng bằng cỏ mọc phía bắc sa mạc Gô bi và phía nam các cánh rừng Siberi. Trước năm 1200, người Mông Cổ bị chia lẻ thành những nhóm nhỏ do một thủ lĩnh dẫn đầu gọi là hãn, và sống trong những cái lều da có thể mang đi được gọi là gers.
Người Mông Cổ thường phải chịu cướp bóc và chăn thả lẻ tẻ. Họ thường đánh nhau để giành bãi chăn, và trong thời khó khăn họ thỉnh thoảng đi cướp bóc, thích cướp đồ đạc hơn là đổ máu. Họ không sưu tập đầu lâu hay da đầu làm chiến lợi phẩm và không khía lên gỗ để ghi lại số người đã giết.

Thiết Mộc Chân

Từ khi sắp trưởng thành đến tuổi ba tám vào năm 1200, một người Mông Cổ tên là Thiết Mộc Chân (Temüjin) nổi lên làm hãn đối với nhiều gia đình. Ông là một nhà quản lý giỏi, khéo thu phục lòng dân. Ông là chư hầu của Ong Khan (Vương Hãn), người cầm đầu một liên minh các bộ lạc được tổ chức tốt hơn các liên minh Mông Cổ khác. Temujin gia nhập với Ong Khan trong một chiến dịch quân sự chống lại người Tatar ở phía đông, và tiếp theo sự thành công của chiến dịch đó Ong Khan tuyên bố Temujin là con nuôi và là người thừa kế của ông. Con trai của Ong Khan, Senggüm (Tang Côn), vốn đã chờ đợi được nối ngôi cha và vạch kế hoạch ám sát Temujin. Temujin biết điều đó, và những người trung thành với Temujin đã đánh bại những người trung thành với Senggum. Temujin trở thành người đứng đầu cái từng là liên minh của Ong Khan. Và vào năm 1206, ở tuổi 42, Temujin lấy danh hiệu là Thành Cát Tư Hãn (có nghĩ là Vị vua cai trị thế giới), và ông đưa những người ủng hộ mình lên làm quan để cảm ơn sự ủng hộ của họ. Giống như những người khác, dân chúng của Thành Cát Tư Hãn coi họ ở trung tâm của vũ trụ, là dân tộc vĩ đại nhất và được chúa trời ưu đãi. Họ coi những chiến thắng của Thành Cát Tư Hãn trong chiến tranh cho thấy ông chính là người chủ không chỉ của "dân tộc của những chiếc lều da" mà còn của cả thế giới.

Hãn của các hãn

Thành Cát Tư Hãn tiếp tục cải thiện tổ chức quân sự của mình, cũng là để biến nó thành một chính quyền quan liêu chính trị di động, và ông phá vỡ cái tồn tại còn lại của các bộ tộc thù địch, chỉ để lại tính đồng nhất về dân tộc những bộ tộc đã trung thành với ông. Ông tạo ra một khung luật pháp mà ông sẽ làm việc trong cả cuộc đời. Việc bắt cóc phụ nữ đã dẫn tới mối hận thù giữa những người Mông Cổ, và khi còn ở tuổi thanh niên, Temujin đã phải chịu đau khổ vì người vợ trẻ của ông là Borte người ông tự nhủ phải giải cứu, bị bắt cóc, và ông lập ra luật cấm bắt cóc phụ nữ. Ông tuyên bố mọi đứa trẻ đều là hợp pháp, dù mẹ nó là người thế nào. Ông biến nó thành luật rằng không phụ nữ nào bị bán cho hôn nhân. Việc ăn trộm gia súc vốn là thứ bất đồng giữa người Mông Cổ, và Thành Cát Tư Hãn biến nó thành tội tử hình. Rất nhiều gia súc đã được trả về cho chủ, và việc chiếm giữ đồ bị mất cắp của người khác cũng bị coi như ăn cắp và cũng bị tử hình. Thành Cát Tư Hãn điều chỉnh lại việc săn bắn - một hoạt động mùa đông - cải thiện khả năng cung cấp thịt cho mọi người. Ông đưa ra việc lưu giữ số liệu bằng cách áp dụng kinh nghiệm của mình trước khi ông đặt ra chữ viết cho ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Ông tạo ra những con dấu chính thức. Ông đặt ra những quan chức cao cấp nhất về pháp luật, những người thu thập và giữ gìn tất cả các quyết định về phán xử, để kiểm soát các cuộc xử án những người có hành vi sai trái và có quyền ra lệnh xử tử hình. Ông cũng tạo ra thứ tự ở trong vương quốc của mình và làm nó mạnh mẽ hơn cũng như làm tăng khả năng bành trướng lãnh thổ của ông.

_________________
Nothing lasts 4ever
Winter_Fire
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://blog.360.yahoo.com/blog-_VnEpesieqLcr5ei.dE8H4dYG.302VW4_
pinus2334
Member
Member


Tổng số bài gửi : 290
Age : 25
Đến từ : nhà papa mama
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử Trung Quốc   Fri Oct 24, 2008 2:03 pm

Các cuộc chinh phục ở miền bắc Trung Quốc

Thành Cát Tư Hãn liên minh với người Uighurs, về phía nam, những người ở gần Con đường tơ lụa hơn người Mông Cổ và vì thế cũng thịnh vượng hơn. Genghis gả con gái cho Uighur Khan, và Uighur Khan mang tới làm đồ cưới một xe đầy vàng, bạc, ngọc trai, vải thêu, tơ tằm và satin. Người Mông Cổ chỉ có da, lông thú và nỉ dạ - một sự bẽ bàng đối với vị vua của cả thế giới. Genghis cần chiến lợi phẩm để thưởng cho đội quân đang bảo vệ biên giới phía bắc của ông và khuất phục một kẻ thù cũ ở đó, người Merkit. Genghis hành động với tư cách người có quyền cai trị toàn bộ thế giới và tấn công những vị vua vùng chăn thả và trồng cấy khác ở vùng tây bắc Trung Quốc, người Tây Hạ vốn cũng có nhiều hàng hoá như người Uighur Khan. Về số lượng binh lính, người Mông Cổ nhiều gấp đôi, và họ phải học một kiểu chiến tranh mới, chống lại các thành phố phòng thủ vững chắc, gồm cả việc cắt đứt các đường tiếp tế và làm lệch dòng chảy của các dòng sông. Thành Cát Tư Hãn và đội quân của mình bách chiến bách thắng, và năm 1210 được người Tây Hạ chấp nhận là vị lãnh tụ tối cao.
Cu~ng vào năm 1210, Nữ Chân, tộc người cai trị vùng phía bắc Trung Quốc gồm cả Bắc Kinh, gửi một phái đoàn tới Thành Cát Tư Hãn đề nghị người Mông Cổ chấp nhận làm chư hầu. Nữ Chân kiểm soát con đường thông thương hàng hoá dọc theo Con đường tơ lụa, và việc từ chối họ có nghĩa là không thể tiếp cận các hàng hoá ở đó. Thành Cát Tư Hãn và những người Mông Cổ bàn bạc và quyết định lựa chọn chiến Tranh. Theo nhà sử học Jacq Weatherford, Genghis đã một mình cầu nguyện trên một ngọn núi, cúi mình và trình bày trường hợp của mình lên “những người bảo vệ siêu nhiên” của ông, miêu tả sự bất bình, những sự tra tấn và giết hại mà nhiều thế hệ dân tộc ông đã phải chịu dưới bàn tay người Nữ Chân. Và ông biện hộ rằng ông không phải là người bày ra chiến tranh với người Nữ Chân và không gây nên những sự cãi nhau.
Năm 1211, Thành Cát Tư Hãn và quân đội của mình tấn công. Người Nữ Chân có một đội quân lớn và hiệu quả nhưng họ bị sức ép mạnh mẽ cả của người Mông Cổ và cả những cuộc chiến tranh biên giới với người Tây Hạ. Họ cũng bị Trung Quốc tấn công ở phía nam, vua Nam Tống muốn lợi dụng cuộc xung đột Nữ Chân-Mông Cổ để giải phóng miền bắc Trung Quốc. Nhưng người Nữ Chân đã buộc quân Trung Quốc phải tháo lui. Người Mông Cổ hưởng lợi từ việc người Trung Quốc luôn thua trận trong các thế kỷ trước để biến họ thành một quyền lực quân sự mạnh mẽ. Họ cũng lợi dụng việc Nữ Chân chế ngự mọi người. Người Mông Cổ sử dụng các mưu mẹo chinh phục và chia rẽ, sử dụng sự rộng lượng đối với những người sát cánh với họ và khủng bố và máu đối với những người không chịu. Họ tàn phá vùng nông thôn, thu thập tin tức và chiến lợi phẩm, đẩy dân chúng đi phía trước họ, cắt đứt các con đường, và nhốt người Nữ Chân trong các thành phố của họ, nơi người dân Nữ Chân chuẩn bị làm loạn. Họ dùng những lao động lính để tấn công các thành phố và trong việc điều hành các dụng cụ hãm thành Trung Quốc mà họ mới chiếm được. Người Mông Cổ có lợi thế ở khẩu phần ăn, gồm rất nhiều thịt, sữa và sữa chua, và họ có thể nhịn ăn một hay hai ngày tốt hơn lính Nữ Chân, những người ăn ngũ cốc. Thành Cát Tư Hãn và quân đội của mình vượt qua Bắc Kinh và lao vào vùng trung tâm miền bắc Trung Quốc. Các thành công quân sự làm cho người dân ở những vùng bị chiếm có cảm giác rằng Thành Cát Tư Hãn có được mệnh trời và rằng việc chống lại ông ta chính là chống lại trời.
Vị vua Nữ Chân công nhận quyền lực Mông Cổ và đồng ý nộp cống, và, sau sáu năm chiến tranh, Thành Cát Tư Hãn quay trở lại Mông Cổ, để một trong những vị tướng giỏi nhất của mình ở lại những vị trí phòng thủ người Nữ Chân. Cùng quay về với Thành Cát Tư Hãn và đội quân Mông Cổ của ông là những kỹ sư, những người đã trở thành một bộ phận thường xuyên trong quân đội đó, và còn có cả những nhạc sỹ, phiên dịch, bác sỹ và người viết chữ, lạc đà và các toa xe hàng hoá bị tóm được. Trong số hàng có tơ, gồm cả áo tơ, đệm, chăn, áo choàng, thảm, tranh treo tường, đồ gốm, ấm sắt, vũ khí, nước hoa, đồ trang sức, rượu, mật ong, thuốc, đồng, bạc và vàng cùng nhiều thứ khác. Và hàng hoá từ Trung Quốc đã trở thành một dòng chảy bền vững.
Người Mông Cổ rất mừng khi quay về quê nhà, đất đai quê hương họ cao, khô và lạnh hơn. Họ coi những người dân ở phía bắc Trung Quốc, những người ăn ngũ cốc như gia súc và sống gần nhau giống như những bầy vật nuôi. Nhưng họ thích những thứ mà Trung Quốc làm ra, và ở quê hương họ đã có sự thay đổi. Dòng chảy liên tục của hàng hoá Trung Quốc được cung cấp và phân phối công bằng và phải xây các khu nhà để tích trữ hàng hoá. Thành công trong chiến tranh đã làm thay đổi Mông Cổ - giống như người Roma và người Ả rập cũng đã từng có.

Bên trong Afghanistan và Ba Tư

Thành Cát Tư Hãn muốn thương mại và hàng hoá, gồm cả các loại vũ khí mới, cho đất nước mình. Một đoàn người Mông Cổ gồm hàng trăm lái buôn kéo tới một vương quốc mới hình thành nằm giữa Ba Tư và Trung Á. Vị vua của vương quốc này cho rằng trong đoàn có các điệp viên. Thành Cát Tư Hãn gửi các đại sứ tới, và vị vua đã giết vị đại sứ và đốt râu của những người khác, những kẻ còn lại bị đuổi về với Thành Cát Tư Hãn. Thành Cát Tư trả thù, xuất quân đi về hướng Tây. Vào những tháng lạnh nhất người Mông Cổ cưỡi ngựa đi qua sa mạc đến Transoxiana không mang theo hành lý, chậm chạp theo dấu các nhà buôn trước khi xuất hiện như các chiến binh trước các thị trấn nhỏ của vương quốc kia. Chiến lược của họ là làm các đối thủ sợ hãi mà đầu hàng mà không cần chiến tranh, lợi dụng chính quân đội của kẻ thù vốn quý cuộc sống. Những kẻ sợ hãi mà đầu hàng được khoan hồng, những kẻ chống lại bị chặt đầu làm gương cho những kẻ khác, và thả đi nhiều kẻ chạy trốn để làm phát tán sự sợ hãi từ những thành phố đầu tiên về thành phố Bukhara. Người dân ở Bukhara mở cửa thành phố cho người Mông Cổ và đầu hàng. Thành Cát Tư Hãn nói với họ rằng những người dân thường không hề có lỗi, rằng những kẻ ở tầng lớp trên đã phạm một tội lớn khiến Chúa trời phải sai ông ta và quân đội đi trừng phạt. Thành phố thủ đô của vị sultan là Samarkand đầu hàng. Quân đội của ông đầu hàng và ông bỏ chạy.
Thành Cát Tư Hãn và quân đội tiến sâu thêm vào vương quốc của vị sultan - tới tận Afghanistan và sau đó là Ba Tư. Người ta nói rằng vị vua Hồi giáo ở Baghdad tỏ ý thù địch đối với vị sultan và giúp đỡ Thành Cát Tư Hãn, điều tới cho ông một trung đoàn viễn chinh người châu Âu, từng là tù nhân của ông. Vì Thành Cát Tư không cần đến bộ binh, nên đã trả tự do cho họ, vì vậy những người châu Âu là những người đầu tiên lan truyền các tin tức sốt dẻo về các cuộc chinh phục của Thành Cát Tư Hãn.
Thành Cát Tư Hãn có từ 100.000 đến 125.000 kỵ binh, với đồng minh Uighur (Duy Ngô Nhĩ) và Turkic (Đột Quyết), các kỹ sư và bác sỹ người Trung Quốc - tổng cộng từ 150,000 đến 200,000 quân. Để tỏ lòng quy phục, một số nơi cung cấp lương thực cho người Mông Cổ, và lực lượng của Thành Cát Tư Hãn đảm bảo bảo vệ họ. Một số thành phố đầu hàng mà không cần đánh nhau. Ở những thành phố mà người Mông Cổ phải chiến đấu, sau khi giết hết các binh lính của họ, Thành Cát Tư Hãn chia những người còn sống sót theo nhóm nghề nghiệp. Ông tách riêng một số ít người trí thức và bất kỳ ai có thể nói nhiều ngôn ngữ. Những người giàu có nhất và quyền lực nhất thành phố ngay lập tức bị giết hại, vì những vị cai trị mà ông bỏ lại phía sau sau khi chinh phục Tangut và Ruzhen đã nhanh chóng phản bội ông sau khi quân đội của ông rút đi.
Người Mông Cổ không tra tấn, cắt xẻo thịt người hay làm tàn tật, nhưng những kẻ thù của họ thì có. Những người Mông Cổ bị bắt bị kéo lê qua các đường phố, bị giết trong như những trò thể thao và để làm vui cho dân thành phố. Người Mông Cổ không tham gia vào những trò khủng khiếp mà các vị cai trị người Âu thường hay làm để làm dấy lên sự sợ hãi và làm nhụt ý chí kẻ thù tiềm tàng – ví dụ không có cái nào trong những trò căng người, thiến, mổ bụng và cắt thành miếng đã nhanh chóng xảy ra cho William Wallace dưới bàn tay người Anh. Người Mông Cổ chỉ đơn giản chặt đầu, và thích làm việc đó từ xa.
Thành phố Nishapur nổi loạn chống lại sự cai trị Mông Cổ. Con rể Thành Cát Tư Hãn bị giết chết, và như được kể lại, con gái ông ta muốn rằng tất cả người dân trong thành phố phải chết, và theo truyền thuyết, họ đã chết.

_________________
Nothing lasts 4ever
Winter_Fire
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://blog.360.yahoo.com/blog-_VnEpesieqLcr5ei.dE8H4dYG.302VW4_
pinus2334
Member
Member


Tổng số bài gửi : 290
Age : 25
Đến từ : nhà papa mama
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử Trung Quốc   Fri Oct 24, 2008 2:04 pm

Tiến vào Azerbaijan, Armenia và Đông Âu

Trong khi Thành Cát Tư Hãn đang củng cố các cuộc chinh phục ở Ba Tư và Afghanistan, một lực lượng 40,000 kỵ binh Mông Cổ lao vào Azerbaijan và Armenia. Họ đánh bại các quân thập tự chinh Georgian, chiếm pháo đài thương mại ở Crimea và trải qua mùa đông ở dọc bờ biển Đen. Khi họ quay về nhà họ gặp 80,000 chiến binh do hoàng tử Mstitlav của Kiev dẫn đầu. Trận chiến sông Kalka (1223) bắt đầu. Nằm ở bên ngoài tầm vũ khí còn thô sơ của bộ binh nông dân, và có được cung tốt hơn đối thủ, họ phá huỷ đội quân của vị hoàng tử. Đối mặt với kỵ binh của hoàng tử, họ giả vờ rút lui, nhử đội kỵ binh trang bị nặng tiến lên phía trước, lợi dụng ưu thế về tính kiêu căng và quá tự tinh của quân quý tộc. Nhẹ và cơ động hơn, họ thoát ra và làm những kẻ đuổi theo mỏi mệt và sau đó tấn công, giết hại và đánh tan họ.
Năm 1225, Thành Cát Tư Hãn quay trở về Mông Cổ. Lúc ấy ông đã chiếm được toàn bộ vùng đất giữa biển Caspi và Bắc Kinh. Ông tìm kiếm thêm lợi ích cho Mông Cổ thông qua các đoàn buôn và lấy được đồ cống nạp của các bộ tộc trồng cấy ở phía đông và phía tây. Ông dựng lên một hệ thống nhỏ nhanh chóng và có hiệu quả. Không đợi sự phân chia từ tôn giáo, ông tuyên bố tự do tôn giáo trong vương quốc của mình. Vì ổn định và thuế tạo nên sự thịnh vượng của quốc gia, ông cấm các đội quân và quan chức địa phương ăn hiếp dân chúng.
Một lần nữa chỉ trong thời gian ngắn, Thành Cát Tư Hãn lại lao vào chiến tranh. Ông tin rằng người Tangut không tuân theo các nghĩa vụ đối với đế chế của ông. năm 1227, ở tuổi sáu năm, trong khi đang dẫn đầu một cuộc chiến chống lại người Tangut, Thành Cát Tư Hãn, như người ta nói, ngã khỏi lưng ngựa và chết.
Về diện tích những vùng đất đã chinh phục được, Thành Cát Tư Hãn là người chinh phục vĩ đại nhất mọi thời đại - đế chế của ông rộng gấp bốn lần thời đại huy hoàng nhất của Alexandre Đại Đế. Quốc gia Mông Cổ tin rằng ông là người vĩ đại nhất mọi thời đại và là người đến từ trên trời. Trong số những người Mông Cổ được coi là Chiến binh thần thánh, và không giống như người Do Thái, những người tiếp tục thấy hy vọng trong những vị vua chinh phục (messiah) như David, người Mông Cổ tiếp tục tin rằng một ngày nào đó Thành Cát Tư Hãn sẽ lại sống dậy và dẫn dân tộc mình tới những thắng lợi.

Người Mông Cổ tới cổng thành Wien

Lúc cuối đời Thành Cát Tư Hãn, các thành viên trong gia đình ông đánh lẫn nhau để xem ai là người kế vị ông. Để chấm dứt tranh cãi, Thành Cát Tư Hãn chọn đứa con thứ ba, Ogodei (Oa Khoát Đài). Và năm 1229, sau cái chết của Thành Cát Tư Hãn, một hội nghị toàn thể Mông Cổ khẳng định sự kế tục của Ogodei như Đại Hãn. Ogodei bắt đầu sự cai trị của mình nhằm mục đích làm mọi người tin rằng ông chính là người có Thiên mệnh cai trị thế giới. Để tỏ thái độ đứng đắn, ông bắt đầu vạch kế hoạch chinh phục các thành viên trong quân đội của mình. Khoảng một phần mười người trẻ tuổi ở các xã hội nông nghiệp gia nhập vào bộ binh Mông Cổ hay để tham gia vào những vụ vây hãm các thành phố. Và những người ở trong lều trại (những người chăn thả du mục) gia nhập vào kỵ binh Mông Cổ.
Năm 1231, Ogodei gửi một đạo quân tới kiểm soát sự thách thức của Triều Tiên với một thoả thuận năm 1218 phải nộp cống hàng năm. Năm 1232, người Triều Tiên nổi loạn và chiến tranh xảy ra và kéo dài hàng thập kỷ. Ogodei cũng phái quân đội đi chống lại người Nữ Chân, và năm 1234, quân đội của ông hoàn thành việc chinh phục phía bắc Trung Quốc. Vào giữa những năm 30, Ogodei gửi quân chống lại các vương hầu Slavic ở Đông Âu, nhưng cuộc kháng chiến của các bộ lạc Châu Á giữa vùng sông Volga và Ural còn lớn hơn những gì ông mong đợi, làm chậm lại kế hoạch chinh phục vùng núi phía tây Ural. Cuối cùng, năm 1237, quân đội của ông đẩy lùi người Nga, chiếm các thành phố Vladimir, Kolmna và Moscow năm 1238. Năm 1240 quân đội của ông tàn phá thành phố Kiev.
Tại Liegnitz (hiện nay là Ba Lan), mặc dù có số quân ít hơn, quân của ông đánh tan quân Đức với các kỵ sỹ trang bị nặng. Quân ông lao sang Hungary, và năm 1241 tiến tới vùng ngoại ô Wien. Sau đó, vẫn còn là điều khó hiểu đối với người Châu Âu, người Mông Cổ rút lui khỏi Wien. Đối với người Âu, có lẽ họ nghĩ rằng họ đã được cứu vãn bởi một điều thần kỳ. Đối với người Mông Cổ thì lại khác. Người Mông Cổ rút khỏi Trung Âu vì cái chết của Ogodei. Các sỹ quan cao cấp trong quân đội tin rằng họ phải quay về để xác định việc lựa chọn một vị vua mới.

Từ Ogodei đến Mongke người cải cách

Ogodei đã giống như những đứa con khác của những người vĩ đại – có chút gì đó kém hơn cha. Ông là một người bạo chi tiền, chất lên lưng những kẻ bị chinh phục những khoản tăng không thể đoán trước về thuế má cho những cơn cần tiền bất ngờ của ông ta. Và bị giằng xé giữa những trách nhiệm, ông đã mệt mỏi vì nó, Ogodei uống rượu rất nhiều tới mức một viên chức được chỉ định để đếm số cốc ông uống hàng ngày. Ông chết ở tuổi năm sáu sau một cuộc chè chén say sưa trong một chuyến đi săn. Tuy nhiên, dù ở tình thế gánh nặng, ông vẫn không thiếu những người trẻ tuổi từ các gia đình mở rộng của Thành Cát Tư Hãn hăm hở muốn trở thành vị Đại Hãn kế tiếp. Vợ goá của Odogei, Toregene bắt đầu cầm quyền cai trị quốc gia của Ogodei, dựa trên tên ông và hành động như người nhiếp chính cho đứa con lớn nhất. Các chiến dịch quân sự giảm dần, gồm cả sự huỷ bỏ cuộc chiến ở Triều Tiên. Chiến tranh nổ ra giữa những người trong gia đình mở rộng. Năm 1246, một trong số họ, Guyug, đã có thể mua được sự ủng hộ và được lựa chọn làm người kế tục của Ogodei. Ông ban thưởng rộng rãi cho những người đã ủng hộ ông và để tiếp tục được ủng hộ, từ các hoàng tử cho đến những người viết mướn, cứ như là tiền của ông là vô tận. Giáo hoàng Innocent IV gửi một đoàn sứ đến Mông Cổ, và một bức thư của họ mang đến ra lệnh người Mông Cổ "từ bỏ" các cuộc chinh phục Châu Âu. Giáo hoàng đưa ra một bản tóm tắt về cuộc đời của chúa Jesus và các giáo lý đạo Thiên chúa, hy vọng thay đổi được vị Đại Hãn, và ông tự miêu tả mình là được Chúa chỉ định nắm mọi quyền lực trên Trái Đất và là người duy nhất được Chúa uỷ nhiệm phát ngôn cho người. Guyug trả lời rằng Chúa đã trao cho người Mông Cổ, chứ không phải cho Giáo hoàng, quyền kiểm soát thế giới, từ khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn. Ông tuyên bố, Chúa trời dự định cho người Mông Cổ mở rộng điều răn dạy của mình dưới dạng bộ luật vĩ đại của Thành Cát Tư Hãn. Và ông gửi lại cho giáo hoàng lời đề nghị rằng giáo hoàng phải quy phục.
Đế chế Mông Cổ, dù có phải của trời hay không cũng gặp phải những vấn đề giống như những đế chế khác. Giai đoạn cai trị ngắn ngủi của Guyug, từ 1246 đến 1247, kết thúc với việc Guyug chết một cách bí ẩn giữa những cuộc tranh cãi ầm ĩ bên trong gia đình hoàng tộc. Việc chọn lựa Đại Hãn mới được hoàn thành vào năm 1251 với đứa cháu trai của Thành Cát Tư Hãn: Mongke (Mông Ca). Một âm mưu của những kẻ đối nghịch nhằm ám sát ông và lễ lên ngôi của ông đã bị khám phá, và tiếp đó là những cuộc tra tấn, thanh lọc, xét xử, thú tội và máu – thanh lọc bên trong gia đình hoàng gia cũng như giữa các quan chức chính phủ.
Mongke cố gắng thiết lập sự hiệu quả trong việc quản lý mọi người dân của mình. Hệ thống ngựa trạm chuyển thư được cho phép tuyển dụng những người tài giỏi làm việc vì lợi ích của chính họ. Ông lập lên một hệ thống thuế có thể đoán trước cho phép người trồng cấy có thể sắp đặt trước kế hoạch. Ông yêu cầu việc cai trị địa phương không được cam thiệp vào việc trồng cấy lương thực. Hình phạt tử hình được áp dụng cho những sỹ quan lấy rau quả từ các vườn của người nông dân Trung Quốc. Các hoàng tử bị cấm ra các luật lệnh mà không được triều đình đế quốc cho phép. Các quan chức, cả dân sự và quân sự, bị cấm vào những vùng không thuộc quyền phán xét của mình. Các chiến dịch quân sự được tiến hành mà không gây tổn hại đến đất trồng hay phá hoại các thành phố, các hành động bị coi là làm giảm bớt số thuế có thể thu được cho ngân khố đế chế. Quyền sở hữu cá nhân được tôn trọng. Kẻ trộm và cướp bị trừng phạt, với hình phạt tử hình cho tội phạm dù nhỏ nhất.
Trong xã hội Mông Cổ, dù sao, phụ nữ cũng có nhiều tính độc lập hơn trong các xã hội Hồi giáo và phương Tây. Phụ nữ Mông Cổ có thể sở hữu tài sản riêng và theo kiện. Và họ phục vụ như những người bổ trợ trong quân đội, náu mình phía sau trong các trại mật trong các trận chiến nhưng cũng tham gia chiến trận trong tình huống khẩn cấp khi cần. Dưới thời cai trị của Mongke, các giáo sỹ và nhà sư được miễn khỏi lao động trong các dự án công cộng. Dưới thời Mongke cũng như dưới thời Thành Cát Tư Hãn, người dân được phép thờ phụng tôn giáo nào họ thích. Phật giáo, Hồi giáo và Thiên chúa giáo đều phát triển. Và năm 1252, chế độ của Mongke đưa việc thờ phục Thành Cát Tư Hãn làm tôn giáo chính thức.

_________________
Nothing lasts 4ever
Winter_Fire
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://blog.360.yahoo.com/blog-_VnEpesieqLcr5ei.dE8H4dYG.302VW4_
pinus2334
Member
Member


Tổng số bài gửi : 290
Age : 25
Đến từ : nhà papa mama
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử Trung Quốc   Fri Oct 24, 2008 2:05 pm

Baghdad và những giới hạn của Đế chế

Những năm 1250, vua Pháp Louis IX lo lắng cho vùng Đất Thánh và hy vọng một liên minh với người Mông Cổ để tiêu diệt Hồi giáo. Người Mông Cổ không quan tâm, nhưng họ đã bắt đầu mở rộng từ Ba Tư về Lưỡng Hà. Để hoàn thành việc cai trị thế giới, Mongke gửi một trong những anh em của mình, Hulegu, về phía tây và Mongke dự định dẫn đầu cuộc chinh phục toàn bộ Trung Quốc. Khi Hulegu và đội quân của ông đang đi qua Ba Tư, họ phá huỷ giáo phái Hồi giáo mà người Châu Âu gọi là Cuộc thảm sát, mở con đường từ Mông Cổ đến Bagdad, thành phố lớn nhất và giàu có nhất thế giới Hồi giáo.
Một số người Thiên chúa giáo ở Bagdad thường đến Mông Cổ như một cơ hội để tự giải thoát mình khỏi sự cai trị Hồi giáo hay để báo thù quá khứ sai trái, và các lãnh đạo quân đội Mông Cổ, như thói quen, lợi dụng những sự xung đột đó. Bên trong quân đội của Hulegu có những người Thiên chúa giáo và Shi’a Hồi giáo, và họ được cho là những người tham gia tích cực nhất vào việc tấn công các dân cư dòng Hồi giáo Sunni ở Bagdad. Năm 1258, Bagdad bị phá huỷ và nhiều người Sunni bị tàn sát, trong khi những người Thiên chúa giáo và Shi’a lại phát triển. Cuộc chinh phục Bagdad chấm dứt việc cai trị của Abbasid caliphate tại Bagdad như một thủ đô tinh thần Hồi giáo trong thời hiện đại. Năm 1259, quân đội của Hulegu vào thành Damascus vĩ đại của Syri, người Thiên chúa giáo ở đó vui mừng chào đón quân Mông Cổ. Sau đó quân Mông Cổ tiến về phía nam đến Ai Cập, và họ biết rằng ngay cả các đế chế vĩ đại nhất của Chúa trời cũng có các giới hạn. Năm 1260, cuộc tiến quân của họ bị chặn lại bởi những người Mameluke Ai Cập, gần Nazareth. Để trả thù những người Thiên chúa giáo đã liên minh với người Mông Cổ, người Mameluke phá huỷ các pháo đài của chiến binh Thập Tự Chinh ở Trung Đông, bắt đầu sự kết thúc của các Thập Tự Chinh ở đó, chỉ để lại cho họ vùng bờ biển Địa Trung Hải, tại Acre, Tyre và Tripoli.

Hốt Tất Liệt ở Trung Quốc và tiến tới Nhật Bản

Sau hai năm chuẩn bị, quân đội của Mongke đã tiến vào tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc. Tại đó, năm 1259, Mongke chết trong chiến trận, và ông là vị Đại Hãn cuối cùng cai trị từ Karakorum và là người cuối cùng điều hành quyền lực trên toàn đế chế Mông Cổ. Một cuộc chiến khác xảy ra về người sẽ trở thành Đại Hãn. Người kế tục Mongke là một trong những anh em của ông, người sau này được gọi là vị hãn Hốt Tất Liệt (Khubilai Khan) - một người cháu 41 tuổi của Thành Cát Tư Hãn người đã chiến đấu bên cạnh Mongke ở Trung Quốc. Những người khác ở phía tây, muốn trở thành Đại Hãn tuyên bố họ là Đại Hãn và thành lập các vương quốc độc lập, dẫn tới sự chia rẽ làm thành tai hoạ của các đế chế.
Từ thủ đô Bắc Kinh của mình, Hốt Tất Liệt tiếp tục sự nô dịch vùng nam Trung Quốc, bị cuốn rũ bởi sự giàu có của nó, gồm cả thặng dư ngũ cốc và các thành thị dọc theo bờ biển phía nam Trung Quốc vốn thịnh vượng nhờ vào thương mại dọc bờ biển. Trung Quốc từ quanh sông Dương Tử đến phía nam là vùng rộng lớn nhất, có dân số đông nhất và có những nguồn lợi lớn nhất so với mọi vùng Mông Cổ từng chiếm được. Hốt Tất Liệt tìm cách thuyết phục hoàng đế Tống khuất phục ông một cách hoà bình, và khi điều này không xảy ra ông đưa quân đội gồm nhiều sắc tộc (gồm cả người Trung Quốc và Ba Tư) lao sâu vào Trung Quốc, trong khi thuỷ binh của ông, do người Nữ Chân và Triều Tiên điều khiển, bơi về phía nam dọc theo bờ biển Trung Quốc. Cuộc xâm chiếm kéo dài mười sáu năm, và kết thúc vào năm 1276 - một năm sau khi một lái buôn người Venezia, Marco Polo đến Bắc Kinh.
Hốt Tất Liệt, không can thiệp nhiều vào kinh tế Trung Quốc, và Khổng giáo không bị ảnh hưởng nhiều, các lái buôn Trung Quốc sau khi tạm thời gián đoạn lại tiếp tục đi buôn. Người Mông Cổ ít đồng hoá với người Trung Quốc, Hốt Tất Liệt không muốn thấy đội quân chiếm đóng của ông biến thành người Trung Quốc. Tuy nhiên, một số sự pha trộn giữa những kẻ chinh phục và người bị chinh phục đã diễn ra – đa phần các binh sỹ Mông Cổ lấy vợ Trung Quốc.
Sau khi củng cố sự cai trị của mình ở Trung Quốc, Hốt Tất Liệt gửi các đoàn sứ để yêu cầu Nhật Bản cống nạp và đe doạ trả đũa nếu họ không chịu. Từ triều đình ở Kyoto, người Nhật Bản trả lời, nói rằng giống như những kẻ cai trị khác, đất nước của họ cũng có nguồn gốc thần tiên. Vì vậy, họ cho rằng, Nhật Bản không phải chịu hàng phục bất kỳ kẻ nào, và họ bắt đầu chuẩn bị chiến tranh. Hốt Tất Liệt tin rằng ông không thể cho phép một sự xuất hiện của sự cưỡng lại của Nhật Bản. Năm 1274, từ phía nam Triều Tiên, ông tung ra một cuộc tấn công - một lực lượng hỗn hợp Mông Cổ, Trung Quốc và Triều Tiên, với 600 đến 900 chiếc thuyền, 23.000 quân, máy bắn đá, tên lửa cháy được, cung và tên. Thời tiết xấu đã đẩy lùi lực lượng tấn công phải quay trở về khỏi các đảo chính của Nhật Bản: Kyushu. Vào mùa hè năm 1281, Hốt Tất Liệt lại cố một lần nữa, lần này ông gửi 4,000 tàu. Trong năm mươi ba ngày người Nhật giữ chân những kẻ xâm lược ở vị trí đổ bộ chật hẹp ở Kyushu. Sau đó một trận bão lớn xảy ra. Người Mông Cổ lại rút lui, chỉ một nửa số quân về được tới Trung Quốc. Người Nhật coi cơn bão là một trận gió của thần – kamikaze (thần phong). Hốt Tất Liệt lại thấy được những giới hạn mà Hulegu đã gặp ở Trung Đông. Đây là nỗ lực cuối cùng nhằm xâm lược Nhật Bản cho tới tận năm 1945, tại Okinawa khi Kamikaze cũng là một từ đáng chú ý.

Sự cai trị của Mông Cổ

Những người Mông Cổ ở Trung Quốc cai trị với nhiều quan lại, binh lính và những người hầu hạ - Thổ Nhĩ Kỳ, Ả rập, một ít người Âu, Nữ Chân và Ba Tư. Người Mông Cổ theo truyền thống của mình ủng hộ nhiều tôn giáo – không chỉ Phật giáo mà cả Hồi giáo, Đạo giáo và Thiên chúa giáo cùng được tôn thờ bởi những người Mông Cổ ở Trung Quốc. Và dưới sự cai trị của Mông Cổ, sự ảnh hưởng của Khổng giáo trong triều đình giảm sút.
Vua Mông Cổ cai trị Trung Hoa là Hốt Tất Liệt, chết năm 1294 ở tuổi bảy mươi chín. Cháu nội của ông, Temur Oljeitu, kế tục ông, hoà bình với Nhật Bản và tiếp tục giữ được sự thịnh vượng đáng có. Temur Oljeitu là người chu đáo và có năng lực, nhưng các ông vua tiếp sau ông sau khi ông chết sớm vào năm 1307 lại yếu kém hơn ông và Hốt Tất Liệt. Trong hai sáu năm từ 1307 đến 1333 có bảy ông vua cai trị.
Cháu trai của Temur Oljeitu, Khaisah cai trị từ 1308. Ông chỉ định những người bất tài vào các vị trí chính phủ, gồm cả các tu sỹ Phật giáo và Đạo giáo, và ông chi tiền vào các đền đài và cung điện hoang phí và tăng gấp ba nguồn cung tiền giấy. Sau cái chết của ông năm 1311, em trai ông, Ayruabarwada, nắm quyền lực ở tuổi hai sáu. Tuy nhiên Ayrubarwada có trình độ cai trị đối lập nổi lên chống lại ông trong triều đình vì coi ông là quá thân thiện với người Trung Quốc. Ông chết năm 1320, và con trai cả của ông, Shidebala, kế tục, ở tuổi mười tám. Shidebala đưa ra các cải cách chống tham nhũng, ủng hộ những người Phật giáo Tây Tạng chống lại Hồi giáo và bị án sát năm 1232. Ông được kế tục bởi Yesun Temur, người có phong cách truyền thống Mông Cổ nhất. Những người ủng hộ ông tham dự vào việc ám sát Shidebala, và ông tự tách mình khỏi họ và quay trở lại truyền thống của Mông Cổ đối xử với mọi tôn giáo công bằng. Yesun Termur chết năm 1328 và con trai út của ông Khaishan, hai tư tuổi cầm quyền trong một tháng trước khi thoái vị nhường ngôi cho người anh lớn hơn, Khoshila, và quay lại nắm quyền một năm sau khi Koshila chết – có thể là một vụ ám sát. Tugh Temur giỏi tiếng Trung Quốc. Ông là một hoạ sỹ, ủng hộ giáo dục, sống đạm bạc và sa thải 10,000 quan chức triều đình. Tugh Temur chết năm 1332.
Nối ngôi Tugh Temur năm 1333 là một chú bé mười ba tuổi, Toghon Temur, có tiếng đồn là con của Koshila. Từ đầu thời gian cai trị của mình, các quan của Toghan Temur đã điều hành mọi hoạt động nhà nước. Vị tể tướng của ông lo lắng vì ông thấy sự yếu kém của Mông Cổ ở Trung Quốc. Ông tái áp đặt sự chia để trị giữa người Mông Cổ và người Trung Quốc, ra lệnh người Trung Quốc không được học tiếng Mông Cổ, tịch thu vũ khí của người Trung Quốc và các công cụ bằng sắt, đặt ra ngoài vòng pháp luật nghệ thuật ca hát và kể chuyện của người Trung Quốc, và coi việc huỷ diệt đa phần dân số Trung Quốc. Sự xâm chiếm Đại Việt: Hốt Tất Liệt ba lần đưa quân đanh Đại Việt xong đều thất bại dứới vị tứơng Đại Việt là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn

_________________
Nothing lasts 4ever
Winter_Fire
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://blog.360.yahoo.com/blog-_VnEpesieqLcr5ei.dE8H4dYG.302VW4_
pinus2334
Member
Member


Tổng số bài gửi : 290
Age : 25
Đến từ : nhà papa mama
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử Trung Quốc   Fri Oct 24, 2008 2:06 pm

Nhà Minh

Sự chống đối của người Trung Quốc với sự cai trị Mông Cổ tăng lên. Người Mông Cổ không chỉ khác người Trung Quốc ở ngôn ngữ mà còn ở cách ăn mặc và các thói quen khác, và người Trung Quốc coi người Mông Cổ là mọi rợ. Họ không thích cách ăn uống của người Mông Cổ, và họ coi người Mông Cổ bốc mùi (vì bẩn).
Bộ máy quân sự Mông Cổ đã suy sút. Các đội quân thông thường của Mông Cổ đã bị đưa vào làm các việc trồng cấy để tự nuôi mình – có sử dụng nô lệ. Trong nhiều thập kỷ hoà bình khả năng chiến đấu của chiến binh Mông Cổ đã bị giảm. Một số chiến binh Mông Cổ cũng không thành công trong việc làm ruộng và mất ruộng đất. Một số thành những kẻ lang thang, trong khi các sĩ quan Mông Cổ vẫn là một tầng lớp quý tộc ăn lương tách biệt khỏi những binh sĩ thông thường.
Khó khăn đã nổ ra giữa những người Mông Cổ ở Crimea năm 1347, và khó khăn tàn phá người Mông Cổ ở Trung Quốc. Các trận lũ lụt tàn phá Trung Quốc. các lực lượng quân đội đồn trú Mông Cổ tiếp tục chiếm giữ các điểm chiến lược ở Trung Quốc, nhưng người Mông Cổ kém số lượng rất nhiều và không được chuẩn bị để chiến đấu với cuộc nổi dậy vĩ đại. Các sỹ quan chỉ huy Mông Cổ bắt đầu điều khiển chính phủ, và Toghon Temur chuyển qua hình thức bán nghỉ hưu. Người ta bảo ông chỉ thích các chú bé đồng tính và cầu nguyện với các vị sư Phật giáo ở Tây Tạng. Sự truỵ lạc của Toghon Temur và sự sùng bái của ông đối với Phật giáo Tây Tạng càng làm tăng sự bất bình của các nhà Nho. Và những sự chống đối Toghon Temur nổi lên cả bên trong Phật giáo. Một giáo phái Phật giáo bí mật, Bạch Liên (Sen trắng), bắt đầu tổ chức nổi loạn và tiên đoán sự xuất hiện của một đấng cứu thế Phật giáo.
Mới đầu cuộc nổi loạn diễn ra ở quanh Quảng Châu năm 1352. Một nhà sư Phật giáo và là một chú bé cựu ăn mày, Chu Nguyên Chương, quẳng áo lễ, gia nhập nổi loạn, và trí thông minh khác người của mình đã giúp ông dẫn đầu đội quân khởi nghĩa. Tới năm 1355 cuộc nổi loạn đã lan rộng ra đa phần Trung Quốc, dẫn tới tình trạng vô chính phủ. Chu Nguyên Chương được lòng dân chúng bởi ông cấm quân lính cướp bóc. Năm 1356, Chu Nguyên Chương chiếm được Nam Kinh và biến nó thành thủ đô của ông, và ở đó ông được một trí thức Khổng giáo giúp đỡ tung ra các tuyên bố cho ông và tổ chức các lễ nghĩ tuyên bố Mệnh Trời. Và ông đánh bại các đội quân làm loạn khác.
Trong lúc ấy, người Mông Cổ đánh lẫn nhau, làm giảm sút khả năng đàn áp nổi loạn của họ. Năm 1368, Chu Nguyên Chương mở rộng quyền kiểm soát tới Quảng Châu, cùng năm đó vị vua cai trị người Mông Cổ Toghan Temur bỏ chạy đến Karakorum. Chu Nguyên Chương và quân đội vào thủ đô cũ của Mông Cổ, Bắc Kinh và năm 1371 quân của ông đến Tứ Xuyên. Năm 1387 – sau hơn ba mươi năm chiến tranh – Chu Nguyên Chương đã giải phóng toàn bộ Trung Quốc. Và là hoàng đế Trung Quốc ông lấy tên hiệu là Hồng Vũ và lập ra một triều đại mới – nhà Minh.

Sự rút lui khỏi một Quyền lực vĩ đại

Điều lo toan đầu tiên của vị vua mới ở Trung Quốc năm 1370 là sức mạnh quân sự và ngăn cản sự hồi sinh của người Mông Cổ. Hoàng đế Hồng vũ lập ra các đội binh đồn trú tại các vị trí chiến lược và lập lên một đẳng cấp quân đội cha truyền con nối tự kiếm sống bằng việc đồng áng và luôn sẵn sàng cho chiến tranh. Và Hồng vũ cho các tướng lĩnh của mình thành tầng lớp quý tộc quân sự mới.
Các đội quân bị cấm làm ảnh hưởng tới dân. Chế độ của Hồng vũ đã hành hình nhiều kẻ vi phạm pháp luật và bị nghi là mưu phản. Ông cấm các hội kín. Và ông tìm cách khôi phục kinh tế. Các trang trại vốn bị tàn phá được khôi phục và ông định cư cho nhiều nông dân tại những nơi từng là đất hoang và giảm thuế cho họ. Giữa năm 1371 và 1379 số lượng đất đai canh tác tăng lên gấp ba, và số thu về cũng vậy. Chính phủ tài trợ việc trồng cây và trồng lại rừng. Những con đê vốn bị sao lãng và các kênh được sửa chữa lại và hàng nghìn hồ chứa nước được xây dựng lại hay khôi phục lại. Hồng Vũ chết năm 1398, ở tuổi bảy mươi. Và, như thường lệ, người đã gắng sức thu lấy quyền lực và lập ra một triều đình thường bị tiếp sau bởi những đứa con cháu kém khả năng hơn mình. Cái chết của Hồng Vũ dẫn tới một cuộc nội chiến bốn năm. Cháu của Hồng Vũ là Minh Huệ Đế được chọn làm người kế vị nhưng chỉ được ở ngôi trong vòng 5 năm. Chu Lệ, người chú của Huệ Đế đã lật đổ ngai vàng của cháu mình để trở thành Hoàng đế năm 1403, Chu Lệ – cũng được gọi là Hoàng đế Vĩnh Lạc (Hạnh phúc vĩnh cửu), được cho là sinh ra bởi một người thiếp người Triều Tiên. Ông cai trị tới năm 1424, sử dụng các hoạn quan làm điệp viên và chỉ định họ vào các chức vụ cao ở triều đình.
Một trong những hoạn quan của hoàng đế Vĩnh Lạc, Trịnh Hòa, là một người Hồi giáo, cha ông từng hành hương tới Mecca. Trịnh Hoà hiểu biết về thế giới ít hơn người khác, và ông dẫn đầu một nhóm hoạn quan có chức tước (can-do) để thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt của hoàng đế. Hoàng đế Vĩnh Lạc ra lệnh cho Trịnh Hoà tiến hành các cuộc thám hiểm trên biển. Những nhà vua Minh học được từ người Mông Cổ các quan hệ hàng hải rộng rãi và kỹ thuật. Dưới thời Mông Cổ, nhiều tàu hàng lớn của Trung Quốc chạy trên biển quanh Trung Quốc, gồm cả những chuyến đi thường xuyên chở ngũ cốc từ phía nam, dọc theo bờ biển, tới phía bắc. Và các tàu Trung Quốc đã buôn bán qua Đông Nam Á đến đảo Lanka (Sri Lanka) và đến Ấn Độ.
Nhà Minh không giữ việc buôn bán này nữa, cuộc thám hiểm của Trịnh Hoà bắt đầu năm 1405, không phải vì mục đích thương mại mà để thám hiểm địa lý và ngoại giao - một cuộc thám hiểm với sáu mươi ba tàu và 27,000 người. Sáu cuộc thám hiểm sau đó cũng được Trịnh Hoà chỉ huy, cuộc cuối cùng năm 1433 dưới thời vua Xuan-de.
Các cuộc thám hiểm tới tận Surabaya ở đào Java, và họ đến Ấn Độ và sáu đó là Mogadishu ở bờ biển Châu Phi, Hormuz ở Vịnh Ba Tư, và lên đến biển Đỏ ở Jeddah. Họ trao đổi quà tặng, và các hương liệu hiếm, các loại cây và thú vật, gồm cả hươu cao cổ, cũng được mang về Trung Quốc.
Trung Quốc có đội hải quân lớn nhất thế giới, với ước tính 317 tàu, một số chiếc dài đến 440 feet và rộng 180 feet, những chiếc tàu có từ bốn đến chín cột buồm cao tới 90 feet, và với đội thuỷ thủ lên đến 500 người. Nhưng sự chú ý của Trung Quốc vào một đội ngũ hàng hải to lớn và các tàu buôn đã bị che mờ bằng sự lo lắng về bảo vệ quân sự trên đất liền. Các cố gắng nhằm kiểm soát Annam không thành công và rất đắt đỏ. Vào giữa thế kỷ người Mông Cổ tiến hành các cuộc cướp bóc ở biên giới và là mối đe doạ lớn nhất với Trung Quốc. Vùng với việc độc lập từ sự cai trị Mông Cổ, ảnh hưởng Khổng giáo đã tăng lên ở triều đình. Các nhà Nho có mặt ở mọi cấp quan liêu và vẫn tỏ ý thù địch đối với thương mại và các tiếp xúc với nước ngoài. Các nhà Nho rất ít hoặc không chú ý đến sự phát triển của Trung Quốc thành một quyền lực về thương mại trên biển.
Với sự thoát khỏi sự cai trị Mông Cổ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc hăm hở khôi phục những thứ thuộc về Trung Quốc, gồm cả việc chạy tàu trên các kênh đào của Trung Quốc - vốn không được sửa chữa dưới thời Mông Cổ. Họ coi thương mại trong nước là đủ. Chính phủ chấm dứt tài trợ cho các cuộc thám hiểm hàng hải, và với tư tưởng co lại bên trong, chính phủ đặt ra ngoài vòng pháp luật việc những chiếc tàu nhiều cột buồm rời khỏi Trung Quốc. Sự phát triển của thương mại trên biển thế giới để dành cho người khác.

_________________
Nothing lasts 4ever
Winter_Fire
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://blog.360.yahoo.com/blog-_VnEpesieqLcr5ei.dE8H4dYG.302VW4_
pinus2334
Member
Member


Tổng số bài gửi : 290
Age : 25
Đến từ : nhà papa mama
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử Trung Quốc   Fri Oct 24, 2008 2:06 pm

Nhà Minh những năm 1500

Việc truyền ngôi từ cha sang con một lần nữa lại làm sự lãnh đạo mất khả năng. Vào năm 1506 Chính Đức, một đứa trẻ mười bốn tuổi con vua Minh là Hoằng Trị nối ngôi. Hoằng Trị đã cảnh báo rằng con mình là Chính Đức rất có xu hướng về tình yêu sự dễ dàng và chơi bời. Và Chính Đức trở thành một người cai trị thích giải trí như âm nhạc, đấu vật, ảo thuật và nhào lộn, ông cũng thích cưỡi ngựa, bắn cung và săn bắn, và không chú ý lắm tới công việc quốc gia. Chính Đức bị ốm và chết năm 1521 ở tuổi 31, và vì ông không có con trai, quyền lực được trao cho một trong những đứa con nuôi của ông, Gia Tĩnh, người mới mười lăm tuổi. Vị hoàng hậu nhiếp chính và một Đại thư ký cai trị trong một thời gian. Quyền lực của các hoạn quan bị kiềm chế và sự giàu có mà các hoạn quan đã tích luỹ được bị sung công: 70 hòm vàng và 2200 hòm bạc của riêng một hoạn quan. Nền kinh tế được khôi phục. Nhưng cuối cùng thì Gia Tĩnh cũng lớn và vị Đại thư ký chết. Sau đó chính phủ ngập ngừng khi Gia Tĩnh chú tâm vào Đạo giáo và sự bất tử. Ông chi tiền vào xây dựng các đền Đạo giáo, nhưng chủ nghĩa duy linh của ông không biến ông thành một vị vua xứng đáng và ít nhất trong mắt của mười tám người thiếp của ông. Năm 1542 họ âm mưu bóp cổ ông khi ông đang ngủ. Tất cả số họ bị hành hình trừ người thiếp đã cảnh báo trước cho hoàng hậu. Gia Tĩnh làm rất ít để cải thiện Trung Quốc về mặt quân sự. Các thuộc địa ở biên giới chỉ có khoảng bốn mươi phần trăm số người có ý định chống lại người Mông Cổ và những tộc dân khác. Các sư đoàn trong nước không có được mười phần trăm sức mạnh đúng đắn của mình. Chính phủ không trả lương cho binh lính bằng với khẩu phần. Cái chết và sự đào ngũ làm giảm số quân, và nhiều người trong số họ bị tuyển vào lính mà không muốn mất mạng trong các trận chiến.
Người Mông Cổ ở phía đông bắc đã liên hiệp lại dưới một người con cháu của Thành Cát Tư Hãn và đang tiến hành các cuộc tấn công vào Trung Quốc. Trong một tháng thuộc năm 1542 họ đốt nhà cửa, ăn cắp gia súc, ngựa và tàn sát, như được viết lại, hơn 200,000 người. Năm 1550 người Mông Cổ tiến về cổng thành Bắc Kinh và cướp bóc và đốt cháy các vùng ngoại ô. Các cuộc cuộc tấn công cũng đến từ những người Trung Quốc (bị cho là người Nhật) có dính đến buôn lậu với người nước ngoài. Những người đó lập nên các cơ sở ở bờ biển và cướp bóc hay chiếm các làng mạc và các thị trấn ở gần sông.
Một đội quân tư nhân, do Thích Kế Quang tổ chức, cuối cùng đã đánh bại các quân ăn cướp từ bờ biển, trong khi Gia Tĩnh vẫn mải mê với Đạo giáo. Gia Tĩnh rút khỏi việc điều hành chính phủ trong một thời gian dài, và những cuộc nghiên cứu về Đạo giáo của ông cho một cuộc sống vĩnh cửu thông qua các loại thuốc ma thuật dẫn tới việc ông chết vì thuốc độc năm 1566. Con của Gia Tĩnh, Long Khánh, cũng không chú ý tới việc trị nước. Nhưng ông đã trục xuất mọi người Đạo giáo ra khỏi triều đình, và một vị quan trong triều là Trương Cư Chính, đã thương lượng hoà bình với người Mông Cổ. Long Khánh cai trị đến năm 1572 và được nối ngôi bởi Vạn Lịch, người cai trị tới năm 1620, trong 47 năm – giai đoạn cai trị dài nhất ở Trung Quốc từ đầu đời Hán mười bảy thế kỷ trước đó.

Thời Vạn Lịch

Một con hươu cao cổ được mua từ châu Phi dưới thời Thành tổ (1414). Người Trung Hoa cho rằng đây là con kỳ lân.
Một con hươu cao cổ được mua từ châu Phi dưới thời Thành tổ (1414). Người Trung Hoa cho rằng đây là con kỳ lân.
Vạn Lịch lên làm vua lúc mười tuổi, và chế độ của ông bắt đầu với sự lãnh đạo của mẹ ông và Trương Cư Chính. Họ lập lại kỷ luật và sự hiệu quả trong chính phủ. Tài chính được ổn định, và các cuộc tấn công vào biên giới Trung Hoa bị đẩy lùi. Nhưng sau khi Vạn Lịch đã lớn, và Trương Cư Chính chết, lịch sử gần đó của các vua Trung Quốc lại lặp lại. Vạn Lịch ngày càng sao nhãng việc quốc gia. Các vị trí chính phủ bỏ trống, và người dân mòn mỏi ở trong tù vì không có người nào xét xử họ. Vạn Lịch cho phép các hoạn quan có được ảnh hưởng ở triều đình. Các hoạn quan lấy tiền thuế của ngân khố quốc gia làm của riêng. Khi một vùng đất bị tàn phá bởi động đất, lũ lụt hay hạn hán, Vạn Lịch muốn cứu tế, nhưng có rất ít (nếu có) cứu tế được thành hiện thực. Và những người dân mất hy vọng lại tụ tập thành băng đảng và nổi loạn.
Thuế cao tiếp tục đè nặng lên người dân nhưng không với tới tầng lớp trên cao. Hàng triệu ở tầng lớp trung gian dính dáng tới việc thu thuế, lấy phần của họ trước khi nộp tới triều đình. Tại một số tỉnh, nửa số thuế bị quý tộc địa phương chiếm giữ. Một số người có tiền dư đem cho vay với lãi suất cắt cổ, và Vạn Lịch tiêu hàng đống tiền nhà nước vào các cung điện và những đồ xa xỉ cho gia đình. Trong lúc đó, Vạn Lịch trở nên béo đến mức ông không thể đứng dậy được.
Trung Quốc vốn khéo léo nhưng có quá ít lãnh đạo trí thức chủ trương cải cách chính trị và xã hội. Các trí thức ủng hộ sự thanh bình qua việc rút lui hay quay về sự tuân phục truyền thống và sự cai trị độc tài đúng đắn. Không giống tầng lớp tư sản ở châu Âu, không có người nhiều Trung Quốc nghĩ tới việc tìm ra các biện pháp tốt hơn nhằm tăng năng suất thông qua cải tiến công cụ - trong khi những người lao động nghĩ về vấn đề này lại không có phương tiện để cải thiện công cụ.
Tầng lớp tiểu quý tộc Trung Quốc, luôn là các nhà Nho ở cả trong việc trồng cấy và trong chính phủ, đã trở thành xa lánh hơn khỏi chính phủ và quay sang phía Phật giáo và bảo trợ cho nhà chùa Phật giáo. Điều này được thúc đẩy bởi các cuộc chiến bè phái bên trong Khổng giáo và bởi các nguy cơ từ việc quyền lực nằm trong tay hoạn quan. Các môn sinh Khổng giáo không thích sự suy tàn trong các tiêu chuẩn Khổng giáo. Các nhà Nho bị chia rẽ thành nhiều phe phái. Nhiều phe Khổng giáo tư nhân phát triển, trong khi rất ít người theo Khổng giáo tìm thấy lỗi của chế độ quân chủ hay chuyên chế. Các nhà Nho tiếp tục coi sự cứu rỗi linh hồn trong việc gia nhập vào việc cư xử theo đạo đức hơn là thay đổi thể chế. Và họ tiếp tục coi thương mại và nghề thủ công là các thứ dành cho tầng lớp bên dưới.
Mức độ rút khỏi công việc quốc gia của Vạn Lịch rốt cuộc có lợi cho thương mại và buôn bán. Trung Quốc sản xuất đồ sứ, tơ và vải bông. Một nền kinh tế tiền tệ đúng đắn phát triển, và các thành phố đang phát triển của Trung Quốc có một số các nhà buôn giàu có. Nông nghiệp Trung Hoa cũng tiến bộ - với một số loại ngũ cốc mới như ngô, khoai lang và đậu phộng từ châu Mỹ. Điều này góp phần vào sự vươn lên của Trung Quốc - tới 100 triệu người - gấp đôi dân số khoảng năm 1368, khi nhà Minh mới bắt đầu. Nhưng không nhiều của cải được dùng vào việc đầu tư cho phát triển kinh tế. Thay vì đầu tư vào thương mại, tiền thường được dùng trong việc cho vay với lãi suất cắt cổ an toàn hơn. Hơn nữa, chính phủ sử dụng thương mại như một nguồn tài sản, và quan điểm của Khổng giáo coi thương mại là hổ thẹn, tầng lớp Trung Hoa giàu có - tiểu quý tộc và các lái buông giàu có – tiêu rất nhiều tiền vào việc tiêu thụ. Các thương nhân cũng như các chủ đất giàu có thường coi đầu tư vào đất đai là cách tốt hơn đầu tư phát triển buôn bán. Đa phần công nghiệp là thủ công trong tay các nông dân, và ngay khi sức sản xuất của họ tăng lên, nó sẽ bị làm giảm xuống bởi các chủ đất. Cũng vậy, chính phủ tài trợ cho các phường hội thủ công và đưa ra các quy định cấm cạnh tranh và phát triển. Các ngành công nghiệp thường bị ép buộc phải bán hàng cho chính phủ với giá quá thấp. Phát triển thương mại bị cản trở bởi những người dân thường không thể tăng khả năng tiêu thụ. Và chính phủ tiếp tục áp đặt các giới hạn đối với ngoại thương, gồm cả việc cấm các lái buôn Trung Quốc đi ra biển.

_________________
Nothing lasts 4ever
Winter_Fire
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://blog.360.yahoo.com/blog-_VnEpesieqLcr5ei.dE8H4dYG.302VW4_
pinus2334
Member
Member


Tổng số bài gửi : 290
Age : 25
Đến từ : nhà papa mama
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử Trung Quốc   Fri Oct 24, 2008 2:07 pm

Người châu Âu tới Trung Quốc

Thay vì các lái buôn Trung Quốc đến châu Âu, các lái buôn châu Âu lại tới Trung Quốc. Vào khoảng giữa thời cai trị của Vạn Lịch, các thương gia Hà Lan và Anh đã đến bờ biển Trung Quốc. Các nhà truyền giáo Thiên chúa, Matteo Ricci, đến Trung Quốc ở Macao năm 1582. Ông lấy tên là Li Mateo và biến mình thành phục tùng người Trung Quốc bằng cách chấp nhận ăn mặc như một môn đồ Khổng giáo, và ông biến Thiên chúa giáo thành dễ chấp nhận hơn đối với người Trung Quốc bằng cách kết nối nó với các tư tưởng Khổng giáo. Ông định cư ở Nam Kinh, và học tiếng Trung Quốc và văn học kinh điển Trung Quốc, và bày tỏ sự tôn trọng đối với hệ thống cai trị độc tài và ưu tiên, Ricci được các trí thức và quý tộc Trung Quốc chấp nhận.
Đầu năm 1601, Ricci nhận được giấy phép đến Bắc Kinh, nơi ông trình bày với triều đình cây đàn clavico, một bản đồ thế giới và hai chiếc đồng hồ có chuông báo giờ. Ông giới thiệu mình với triều đình là một kẻ thần dân hèn mọn của Vạn Lịch và rất quen thuộc với “trời hình cầu, địa lý, hình học và toán học”. Ricci khuấy động sự chú ý và sự nhận thức về các tiến bộ kỹ thuật của phương Tây. Và giấy phép hoạt động ở Trung Quốc cho phép Ricci mở rộng Thiên chúa giáo ở đó, tới năm 1610 Trung Quốc có hơn ba trăm nhà thờ Thiên chúa.

Sự kết thúc của nhà Minh

Vạn Lịch chết ở tuổi năm bảy, khá già cho một người béo nặng như ông. Người kế ngôi ông là Quang Tông trị vì chưa đầy một tháng trong năm 1620. Thiên Khải, mới mười lăm tuổi và dốt nát lên ngôi. Sự rút lui của nhà vua khỏi công việc quốc gia tiếp diễn. Vua Thiên Khải thích nghề thợ mộc trong khi triều đình và bộ máy hành chính bị áp chế bởi các hoạn quan, Ngụy Trung Hiền, người xua đuổi bất kỳ ai khỏi chức vụ chính phủ nếu ông nghĩ rằng có thể không trung thành với ông.
Nổi loạn xuất hiện năm 1624, được dẫn đầu bởi sáu nhà Nho đang cố gắng phục hưng Khổng giáo “chính thống”. Họ được gọi là sáu anh hùng. Họ là những kẻ mộng mơ và thích phục hưng đạo đức hơn là tổ chức một cuộc đấu tranh vũ trang, và, giống như nhà Nho Vương Mãng nhiều thế kỷ trước, họ đã phải trả giá bằng mạng sống của mình. Họ bị tra tấn và đánh đến chết, và bảy trăm người ủng hộ họ bị thanh trừng khỏi các vị trí chính phủ.
Một số người ở Trung Quốc kết luận rằng sự khủng bố của Ngụy Trung Hiền và sự chấp nhận thụ động của Thiên Khải chỉ ra rằng triều Minh đã mất Thiên mệnh. Thiên Khải chết năm 1627 và được kế tục bởi đứa em nhu nhược, Sùng Trinh, và dưới thời Sùng Trinh Trời dường như can thiệp chống lại nhà Minh, vì Trung Quốc (và nhiều vùng khác trên thế giới) phải chịu tình trạng thời tiết xấu bất thường: trời lạnh, hạn hán và lũ lụt từ việc mưa quá nhiều. Cũng vậy tình trạng suy đốn thương mại đã phát triển ở Châu Âu những năm 1620, có một số ảnh hưởng đến Trung Quốc. Khắp nước Trung Quốc, người dân nổi lên làm loạn. Về quân sự hoàng đế vẫn yếu kém. Và nhiều cuộc đột nhập lại xuất hiện ở phía bắc – không phải từ phía người Mông Cổ mà từ Mãn Châu, các cuộc đột nhập từ nơi mà ngày nay ta gọi là Manchuria.
Chính người Trung Quốc đã phát triển kiểu canh tác của mình đến Mãn Châu. Ở phần Mãn Châu tên là Cát Lâm là nơi hậu duệ của những người Nữ Chân bán du cư đã lập lên nhà Kim ở phía bắc Trung Quốc năm 1100. Tới đầu năm 1600, trong số họ, Nurhaci đã thống nhất các bộ tộc Mãn Châu dưới quyền quản lý của mình. Con kế vị của ông, Abahai, cai trị từ thị trấn Mukden, gọi thần dân của mình là Manchu. Ông liên kết với các bộ lạc Mông Cổ, lập một thoả thuận với người Triều Tiên và dự định một cuộc tấn công Trung Quốc.

_________________
Nothing lasts 4ever
Winter_Fire
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://blog.360.yahoo.com/blog-_VnEpesieqLcr5ei.dE8H4dYG.302VW4_
pinus2334
Member
Member


Tổng số bài gửi : 290
Age : 25
Đến từ : nhà papa mama
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử Trung Quốc   Fri Oct 24, 2008 2:08 pm

Nhà Thanh

Người Mãn Châu tiến hành các cuộc xâm nhập vào phía bắc Trung Quốc cùng lúc dân cư Trung Quốc nổi dậy chống lại vua Sùng Trinh. Năm 1644 quân khởi nghĩa Lý Tự Thành tràn vào Bắc Kinh. Sùng Trinh tự treo cổ.
Quân Thanh tiến vào Trung Quốc, đánh bại quân khởi nghĩa Lý Tự Thành. Trong bảy năm tiếp theo các cuộc chiến đấu bên ngoài Bắc Kinh tiếp diễn, người Mãn Châu chiếm được các vị trí quân sự chiến lược, những người ủng hộ nhà Minh chạy sang Đài Loan, và không chịu hàng Mãn Châu mãi tới tận năm 1683. Mãn Châu nắm quyền ở Bắc Kinh và cuối cùng chiếm toàn bộ Trung Quốc. Các vua Trung Quốc bây giờ thuộc gia đình Mãn Châu gọi là nhà Thanh, một triều đại cai trị tới tận thế kỷ 19.
Một số ít người Trung Quốc chọn cái chết thay vì phục vụ cho nhà Mãn Châu. Nhưng người Mãn Châu – không bao giờ vượt quá hai phần trăm dân số Trung Quốc – có thể cai trị Trung Quốc bởi vì sự phục tùng của người Trung Quốc. Người Mãn Châu sử dụng Khổng giáo làm ủng hộ chính quyền chính trị, thúc đẩy học tập cổ điển và sự sùng kính tổ tiên, gồm cả ý tưởng rằng nhà vua cai trị bằng đức hạnh của lòng tốt của mình. Người Trung Quốc chiếm nhiều vị trí trong triều đình quan lại Mãn Châu.
Các vua Mãn Châu giữ quyền quân sự ngoài tay người Trung Quốc và trong tay những anh chàng người Mãn Châu, và họ tìm cách ngăn cản những người Mãn Châu không bị đồng hoá Trung Quốc. Người Mãn Châu ở Trung Quốc bị bắt buộc phải dành cả đời để đi lính. Họ bị cấm tham gia buôn bán và lao động, và cấm cưới người Trung Quốc.
Với hoà bình do người Mãn Châu mang lại cho Trung Quốc, sự thịnh vượng và sự phát triển dân số lại diễn ra, và thương mại với Châu Âu tăng lên. Một vị vua Mãn Châu, Khang Hi cai trị sáu mốt năm từ 1661 đến 1722 và sẽ được coi là vị vua vĩ đại nhất Trung Quốc. Ông được những người theo đạo Thiên chúa ở Trung Quốc tán dương về “trái tim quý phái”, sự thông minh cùng trí nhớ tuyệt vời của ông, khẩu vị đọc của ông cũng như việc ông là “vị vua toàn bị đối với mọi cảm xúc của mình.”

Trung Quốc tới cuộc chiến Nha phiến lần 1

Dân số Trung Quốc đã tăng gấp đôi từ 1700 và 1794 tới 313 triệu người. Sự mở rộng trồng trọt ở các tỉnh Giang Tây và Hồ Nam đã tàn phá đa số rừng ở đó. Đài Loan lúc này đã là một phần của Trung Quốc, bị sáp nhập từ năm 1683, và một cuộc điều tra dân số năm 1811 cho thấy số dân Trung Quốc ở Đài Loan gần đến hai triệu người. Năm 1756 và 1757 quân đội của vua Càn Long đã mở rộng biên giới đến điểm cực tây của mình, và ông cai trị cả Tây Tạng lẫn Mông Cổ.
Sản xuất nông nghiệp ở Trung Quốc không tăng kịp với mức tăng dân số, và vì không có lương thực giá rẻ, người dân thường Trung Quốc không có tiền để mua bất kỳ thứ gì khác, và không có bùng nổ trong chế tạo và trong việc thuê người thất nghiệp. Trung Quốc xuất khẩu trà sang Anh Quốc, làm đồ sứ để xuất khẩu và chế tạo tơ tằm và hàng bông, nhưng lao động đầy rẫy giá rẻ đến mức giống như nô lệ, nó làm giảm bớt sự khuyến khích đầu tư vào máy móc. Các thương gia không ở trong một môi trường khuyến khích sự liên kết, chính phủ cung cấp ít an ninh cho các thương gia và các doanh nghiệp tư nhân. Kinh tế không phải là một vấn đề đáng chú ý của những người có nhiều ảnh hưởng. Những người có thời gian rỗi rãi để học hành không thích quan tâm đến kỹ thuật. Họ thích văn học, nghệ thuật, Khổng giáo và tôn giáo.
Trung Quốc bị cai trị một cách chuyên quyền và thần quyền bởi vua Mãn Châu từ thị tộc Ái Tân Giác La ở vùng Mãn Châu, nhà Thanh, đã cầm quyền từ năm 1644. Từ cung điện đế quốc, tại Tử cấm thành, Bắc Kinh, nhà Thanh giữ quân đội ở Mãn Châu và tìm cách giữ sự khác biệt của người Mãn Châu khỏi người Trung Quốc, trong khi vẫn ủng hộ nghệ thuật Trung Quốc và tự giáo dục mình bằng tư tưởng Khổng giáo chính thống.
Vào cuối thế kỷ 18, sự thiếu thốn đất đai, tham nhũng trong chế độ quan liêu và quân sự, và sự bần cùng hoá đã tạo ra tình trạng náo động. Người dân thường biểu lộ sự bất bình thông qua các tổ chức tôn giáo, các tổ chức bắt buộc giữ bí mật đối mặt với chính quyền đế quốc thù địch. Một tổ chức tôn giáo chống Mãn Châu bị bần cùng hoá ở một vùng núi miền trung Trung Quốc đã tiên đoán sự giáng sinh của đức Phật, sự tái lập triều Minh và sự cứu rỗi cho những người ủng hộ họ. Nó tự tin tung ra một phong trào chống thuế. Từ năm 1796 đến 1804, khắp Trung Quốc các hội kín nổi loạn chống chính quyền Mãn Châu. Đây được gọi là cuộc nổi loạn Bạch Liên. Vua Gia Khánh (1796-1820) theo đuổi một chương trình có hệ thống nhằm tái lập hoà bình, gồm cả việc tiêu diệt các băng đảng du kích kháng chiến và ân xá cho những kẻ đảo ngũ.
Bạo lực lại diễn ra năm 1813 khi những kẻ nổi loạn có sự giúp đỡ của các hoạn quan trong triều, tí nữa ám sát được vua Gia Khánh. Đây là Cuộc nổi loạn Bát Tam(Eight Trigrams Rebellion). Một trong những lãnh đạo của nó, Lin Ch’ing, đã tuyên bố mình là hiện thân của đức Phật và nói rằng các lạnh đạo khác của phong trào, Li Wen-ch’ang sẽ cai trị trên trái đất như là “Vua của loài người”. Nhưng điều này bị quân đội của vua Gia Khánh ngăn chặn. Li Wen-ch’ang và hơn 70,000 người khởi nghĩa bị giết hại.

_________________
Nothing lasts 4ever
Winter_Fire
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://blog.360.yahoo.com/blog-_VnEpesieqLcr5ei.dE8H4dYG.302VW4_
pinus2334
Member
Member


Tổng số bài gửi : 290
Age : 25
Đến từ : nhà papa mama
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử Trung Quốc   Fri Oct 24, 2008 2:09 pm

Ngoại xâm và bạo loạn

Một bức hình biếm hoạ nổi tiếng của Pháp cuối những năm 1890. "Miếng bánh Trung Quốc" đang được chia nhau bởi Anh, Đức, Nga, Pháp, Nhật.
Một bức hình biếm hoạ nổi tiếng của Pháp cuối những năm 1890. "Miếng bánh Trung Quốc" đang được chia nhau bởi Anh, Đức, Nga, Pháp, Nhật.
Một trong những vấn đề lớn ở thế kỷ 19 của Trung Quốc là cách thức đối phó với các nước khác bên ngoài. Trước thế kỷ mười chín, Đế chế Trung Quốc là cường quốc bá chủ ở châu Á. Tuy nhiên, trong thế kỷ 18, các đế chế châu Âu dần mở rộng ra khắp thế giới, khi các nước Châu Âu phát triển các nền kinh tế hùng mạnh dựa trên thương mại hàng hải. Mặt khác, đế chế Trung Quốc rơi vào tình trạng tù hãm sau nhiều thế kỷ dẫn đầu thế giới. Tới cuối thế kỷ 18, các thuộc địa của Châu Âu đã được lập nên ở gần Ấn Độ và trên những hòn đảo hiện là các vùng thuộc Indonesia, trong khi Đế chế Nga đã sáp nhập các vùng phía bắc Trung Quốc. Ở thời các cuộc chiến tranh Napoleon, Anh Quốc từng muốn thành lập liên minh với Trung Quốc, gửi các hạm đội tàu tới Hồng Kông mang theo quà tặng gửi tới vị Hoàng đế, gồm nhiều vật phẩm được chế tạo bởi những kỹ thuật và phong cách nghệ thuật mới nhất của Châu Âu thời kỳ đó. Khi các phái đoàn Anh nhận được một lá thư từ Bắc Kinh giải thích rằng Trung Quốc không cảm thấy ấn tượng trước những thành tựu của Châu Âu và rằng triều đình Trung Quốc sẵn lòng nhận sự kính trọng của vua George III nước Anh, chính phủ Anh cảm thấy bị xúc phạm và từ bỏ mọi kế hoạch nhằm thiết lập các quan hệ với nhà Thanh.
Năm 1793, nhà Thanh chính thức cho rằng Trung Quốc không cần tới các hàng hóa Châu Âu. Vì thế, các lái buôn Trung Quốc chỉ chấp nhận dùng bạc làm vật trao đổi cho hàng hóa của họ. Nhu cầu to lớn của Châu Âu đối với các hàng hóa Trung Quốc như tơ, trà, và đồ sứ chỉ có thế được đáp ứng khi các công ty Châu Âu rót hết số bạc họ có vào trong Trung Quốc. Tới cuối những năm 1830, các chính phủ Anh và Pháp rất lo ngại về các kho dự trữ kim loại quý của họ và tìm cách đưa ra một phương thức trao đổi mới với Trung Quốc - và cách tốt nhất là đầu độc Trung Quốc bằng thuốc phiện. Khi nhà Thanh tìm cách cấm buôn bán thuốc phiện năm 1838, Anh Quốc đã tuyên chiến với Trung Quốc.
Chiến tranh nha phiến lần thứ nhất cho thấy sự lạc hậu của quân đội Trung Quốc. Dù có quân số áp đảo so với người Anh, kỹ thuật và chiến thuật của họ không thể so sánh với các cường quốc kỹ thuật thời ấy. Hải quân nhà Thanh, gồm toàn các tàu gỗ và không phải là đối thủ của các tàu chiến bọc thép chạy hơi nước của Hải quân Hoàng gia Anh. Binh sĩ Anh sử dụng súng có rãnh xoắn và pháo binh vượt trội dễ dàng tiêu diệt các lực lượng nhà Thanh trên chiến trường. Việc nhà Thanh đầu hàng năm 1842 đánh dấu một tai họa mang tính quyết định và nhục nhã của Trung Quốc. Trung Quốc bắt buộc phải chấp nhận thua trận và thừa nhận các yêu cầu của Anh Quốc. Với Hiệp ước Nam Kinh năm 1842, kỹ trên tàu chiến Cornwallis, Trung Quốc chấp nhận buôn bán với Anh Quốc. Họ đồng ý một mức thuế quan “đúng mức và ổn định” và mở cửa các cảng ở Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba và Thượng Hải cho các thương nhân nước ngoài và trao cho người Anh bất kỳ sự nhượng bộ nào mà Trung Quốc trao cho các cường quốc khác. Trung Quốc chấp nhận trả cho Anh Quốc một khoản bồi thường 20.000.000 đô la bạc và nhượng đảo Hồng Kông cho Anh Quốc.
Điều đó cho thấy nhiều tình trạng tồi tệ của chính phủ nhà Thanh và khiến cho nhiều cuộc khởi nghĩa chống chế độ diễn ra. Cuộc khởi nghĩa Thái bình thiên quốc bùng nổ vào giữa thế kỷ 19 phản ánh tư tưởng chống Mãn Châu đe dọa sự ổn định của nhà Thanh. Tuy nhiên, số lượng thương vong kinh khủng của cuộc khởi nghĩa này - tới 30 triệu người - và sự tàn phá nghiêm trọng các vùng đất rộng lớn ở phía nam đất nước vẫn còn bị che mở bởi một cuộc xung đột khác. Dù không đẫm máu bằng, nhưng thế giới ên ngoài cùng với những tư tưởng và kỹ thuật của nó đã có một ảnh hưởng rất lớn và cuối cùng mang lại tác động có tính cách mạng đối với một triều đình nhà Thanh đang ngày càng suy yếu và dao động.
Các cường quốc phương tây, chưa hài lòng với Hiệp ước Nam Kinh, chỉ miễn cưỡng hỗ trợ nhà Thanh trong việc tiêu diệt các cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc và cuộc khởi nghĩa Niệm Quân. Thu nhập của Trung Quốc giảm sút rõ rệt trong thời gian chiến tranh khi nhiều vùng đất canh tác rộng lớn bị hủy hoại, hàng triệu người thiệt mạng và số lượng binh lính đông đảo cũng như trang bị vũ khí cho họ để chiến đấu. Năm 1854, Anh Quốc tìm cách đàm phán lại Hiệp ước Nam Kinh, thêm vào các điều khoản cho phép các thương gia người Anh đi lại trên sông ngòi Trung Quốc và lập một đại sứ quán thường trực của họ tại Bắc Kinh. Điều khoản cuối cùng này xúc phạm tới chính quyền nhà Thanh và họ đã từ chối ký kết, gây ra một cuộc chiến tranh khác giữa hai bên. Cuộc chiến tranh nha phiến lần thứ hai chấm dứt với một thất bại nặng nề khác của Trung Quốc, với Hiệp ước Thiên Tân cùng cách điều khoản "xấc xược" đối với phía Trung Quốc, như yêu cầu tất cả các tài liệu chính thức của Trung Quốc phải được viết bằng tiếng Anh và một quy định cho phép các tàu chiến Anh được đi lại không hạn chế trên các sông ngòi Trung Quốc.

Thái hậu Từ Hy

Cuối thể kỷ 19, Trung Quốc nằm dưới quyền cai trị thực sự của Từ Hi Thái Hậu. Từ Hi đã ngấm ngầm tiến hành cuộc đảo chính để tước quyền nhiếp chính của đại thần Túc Thuận theo di chiếu của tiên hoàng. Bà nắm quyền nhiếp chính và trở thành người đứng đầu không chính thức của Trung Hoa suốt 47 năm. Bà còn được biết tới bởi sự nhúng tay vào chính sự kiểu "Thùy liêm thính chính" (垂簾聽政-tức can thiệp chính trị từ sau hậu đài).
Tới những năm 1860, triều đình nhà Thanh đã tiêu diệt được các cuộc nổi dậy nhờ sự hỗ trợ của lực lượng dân quân do tầng lớp quý tộc tổ chức. Sau đó, chính phủ Thanh tiếp tục giải quyết vấn đề hiện đại hoá, từng được đưa ra trước đó với Phong trào tự cường. Nhiều đội quân hiện đại được thành lập gồm cả Hạm đội Bắc Hải; tuy nhiên Hạm đội Bắc Hải đã bị tiêu diệt trong Chiến tranh Trung Nhật (1894-1895), khiến cho ngày càng xuất hiện nhiều kêu gọi cải cách sâu rộng hơn nữa. Đầu thế kỷ 20, nhà Thanh rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Nếu tiếp tục theo đuổi cải cách, họ sẽ khiến giới quý tộc bảo thủ mích lòng, nếu ngăn cản việc đó họ lại khiến những người theo đường lối cách mạng tức giận. Nhà Thanh tìm cách đi theo con đường trung dung, nhưng việc này lại khiến tất cả các bên cùng bất mãn.
Mười năm trong giai đoạn cai trị của Hoàng đế Quang Tự (r. 1875 - 1908), áp lực của phương Tây đối với Trung Quốc lớn tới mức họ phải từ bỏ mọi hình thức quyền lực. Năm 1898 Quang Tự nỗ lực tiến hành Cuộc cải cách một trăm ngày (百日維新, Bách nhật duy tân), còn được biết dưới cái tên "Mậu Tuất biến pháp" (戊戌變法), đưa ra các luật mới thay thế cho các quy định cũ đã bị bãi bỏ. Những nhà cải cách, với đầu óc tiến bộ hơn như Khang Hữu Vi được tin tường và những người có đầu óc thủ cựu như Lý Hồng Chương bị gạt bỏ khỏi các vị trí quan trọng. Nhưng các ý tưởng mới đã bị Từ Hi dập tắt, Quang Tự bị nhốt trong cung. Từ Hi chỉ tập trung vào việc củng cố quyền lực của riêng mình. Tại buổi lễ sinh nhật lần thứ 60, bà đã chi 30 triệu lạng bạc để trang trí và tổ chức, số tiền đã định dùng để cải tiến vũ khí cho Hạm đội Bắc Hải.
Năm 1901, sau khi Đại sứ Đức bị ám sát, Liên quân tám nước (八國聯軍) cùng tiến vào Trung Quốc lần thứ hai. Từ Hi phản ứng bằng cách tuyên chiến với tám nước, nhưng chỉ một thời gian ngắn đã để mất Bắc Kinh và cùng với Hoàng đế Quang Tự chạy trốn tới Tây An. Để đòi bồi thường chiến phí, Liên quân đưa ra một danh sách những yêu cầu đối với chính phủ nhà Thanh, gồm cả một danh sách những người phải bị hành quyết khiến cho Lý Hồng Chương, thuyết khách số một của Từ Hi, buộc phải đi đàm phán và Liên quân đã có một số nhượng bộ đối với các yêu cầu của họ.

_________________
Nothing lasts 4ever
Winter_Fire
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://blog.360.yahoo.com/blog-_VnEpesieqLcr5ei.dE8H4dYG.302VW4_
pinus2334
Member
Member


Tổng số bài gửi : 290
Age : 25
Đến từ : nhà papa mama
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử Trung Quốc   Fri Oct 24, 2008 2:09 pm

Sụp đổ triều đại, chấm dứt thời phong kiến

Tới đầu thế kỷ 20, hàng loạt các vụ náo động dân sự xảy ra và ngày càng phát triển. Từ Hi và Hoàng đế Quang Tự cùng mất năm 1908, để lại một khoảng trống quyền lực và một chính quyền trung ương bất ổn. Phổ Nghi, con trai lớn nhất của Thuần Thân Vương, được chỉ định làm người kế vị khi mới hai tuổi, và Thân Vương trở thành người nhiếp chính. Tiếp theo sự kiện này Tướng Viên Thế Khải bị gạt khỏi chức vụ của mình. Tới giữa năm 1911 Thuần Thân Vương lập ra "Chính phủ gia đình hoàng gia", một hội đồng cai trị của Chính phủ Hoàng gia hầu như gồm toàn bộ các thành viên thuộc dòng họ Aisin Gioro. Việc này khiến các quan lại cao cấp như Trương Chi Động tỏ thái độ bất mãn.
Cuộc Khởi nghĩa Vũ Xương diễn ra vào ngày 10 tháng 10, 1911, và tiếp sau đó là sự tuyên bố thành lập một chính phủ trung ương riêng biệt, Cộng hòa Trung Hoa, tại Nam Kinh với Tôn Dật Tiên làm lãnh đạo lâm thời. Nhiều tỉnh bắt đầu "ly khai" khỏi quyền kiểm soát của nhà Thanh. Chứng kiến tình trạng này, chính phủ Thanh dù không muốn cũng buộc phải đưa Viên Thế Khải trở lại nắm quân đội, kiểm soát Bắc Dương quân của ông, với mục tiêu nhằm tiêu diệt những người cách mạng. Sau khi lên giữ chức Tể tướng (內閣總理大臣 Nội các tổng đại thần) và lập ra chính phủ của riêng mình, Viên Thế Khải còn tiến xa nữa khi buộc triều đình phải cách chức nhiếp chính của Thuần Thân Vương. Việc cách chức này sau đó được chính thức hoá thông qua các chỉ thị của Hiếu Định hoàng hậu.
Khi Thuần Thân Vương đã buộc phải ra đi, Viên Thế Khải và các vị chỉ huy bên trong Bắc Dương quân của mình hoàn toàn nắm quyền chính trị của triều đình nhà Thanh. Ông cho rằng không có lý do gì để tiến hành một cuộc chiến tranh gây nhiều tốn phí, đặc biệt khi nói rằng chính phủ nhà Thanh chỉ có một mục tiêu thành lập một nền quân chủ lập hiến. Tương tự như vậy, chính phủ của Tôn Dật Tiên muốn thực hiện một cuộc cải cách dân chủ, vừa hướng tới lợi ích của nền kinh tế và dân chúng Trung Quốc. Với sự cho phép của Hiếu Định hoàng hậu, Viên Thế Khải bắt đầu đàm phán với Tôn Dật Tiên, người đã cho rằng mục tiêu của mình đã thành công trong việc lập ra một nhà nước cộng hòa và vì thế ông có thể cho phép Viên Thế Khải nhận chức vụ Tổng thống của nền Cộng hoà. Năm 1912, sau nhiều vòng đàm phán, Hiếu Định đưa ra một chiếu chỉ tuyên bố sự thoái vị của Phổ Nghi vị hoàng đế nhỏ tuổi.
Sự sụp đổ của nhà Thanh năm 1912 đánh dấu sự kết thúc của hơn 2000 năm chế độ phong kiến Trung Quốc và sự khởi đầu của một giai đoạn bất ổn kéo dài.

_________________
Nothing lasts 4ever
Winter_Fire
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://blog.360.yahoo.com/blog-_VnEpesieqLcr5ei.dE8H4dYG.302VW4_
pinus2334
Member
Member


Tổng số bài gửi : 290
Age : 25
Đến từ : nhà papa mama
Registration date : 24/02/2008

Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử Trung Quốc   Fri Oct 24, 2008 2:10 pm

phu`! xong goy` hehe

_________________
Nothing lasts 4ever
Winter_Fire
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://blog.360.yahoo.com/blog-_VnEpesieqLcr5ei.dE8H4dYG.302VW4_
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Lịch sử Trung Quốc   

Về Đầu Trang Go down
 
Lịch sử Trung Quốc
Về Đầu Trang 
Trang 2 trong tổng số 2 trangChuyển đến trang : Previous  1, 2
 Similar topics
-
» Lẩu Trung Quốc tả pín lù
» ĐỐ VUI TRUNG QUỐC
» Bánh trung thu rau câu
» Thành ngữ và điển cố Trung Hoa
» Gửi Chồng yêu!Dương Trung Kiên.

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Hoa My Entertainment :: Giao lưu- học hỏi :: Nhật Bản-
Chuyển đến